Diễn đàn được tổ chức trên cơ sở hai số liệu phản ánh vị trí hiện tại của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2024 đạt 405,5 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm trước, nhưng khu vực kinh tế trong nước chỉ đóng góp 28,3% con số đó.

Theo Báo cáo Việt Nam 2045: Trading Up in a Changing World của Ngân hàng Thế giới, công bố vào tháng 11/2024, tỷ lệ doanh nghiệp nội địa kết nối được với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ 35% năm 2009 xuống còn 18% trong năm 2023. Hai số liệu này cho thấy quy mô xuất khẩu tiếp tục mở rộng, trong khi mức độ tham gia trực tiếp của doanh nghiệp trong nước vào quá trình tạo giá trị chưa tương xứng, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các phân khúc giá trị gia tăng cao hơn của chuỗi.
Số liệu cập nhật của Cục Thống kê cho bảy tháng đầu năm 2026 cho thấy khoảng cách này chưa được thu hẹp: trong tổng kim ngạch xuất khẩu 319,53 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 255,89 tỷ USD, tăng 26,4% và chiếm tới 80,1%, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 63,64 tỷ USD, chiếm 19,9% và tăng 5,8%. Tốc độ tăng trưởng chênh lệch giữa hai khu vực cho thấy động lực xuất khẩu hiện nay vẫn chủ yếu đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Đức Huy, Phó Giám đốc HCMC C4IR nhấn mạnh đây không phải là vấn đề riêng của một quốc gia hay một doanh nghiệp đơn lẻ, khi nhà mua hàng toàn cầu hiện nay tìm kiếm một cụm cung ứng có đủ quy mô, đủ độ tin cậy và đủ khả năng bù đắp cho nhau khi xảy ra gián đoạn, thay vì một nhà cung cấp đơn lẻ.
Bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu
Theo Báo cáo Triển vọng Chuỗi giá trị toàn cầu 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố tại Davos ngày 19 tháng 1 năm 2026, chuỗi cung ứng toàn cầu đang bước vào giai đoạn biến động mang tính cấu trúc thay vì những cú sốc mang tính chu kỳ như trước đây. Gần 3/4 lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất được khảo sát trong báo cáo xem khả năng chống chịu là động lực tăng trưởng, không còn đơn thuần là chi phí vận hành. Xu hướng này cũng được ghi nhận trong một khảo sát trước đó của Diễn đàn Kinh tế Thế giới phối hợp với Kearney trên hơn 300 lãnh đạo vận hành và chuỗi giá trị toàn cầu: 92% đang khu vực hóa mạng lưới sản xuất, song chỉ 28% đặt mục tiêu vận hành gần như hoàn toàn theo mô hình khu vực phục vụ khu vực vào năm 2030.
Diễn biến trên kéo theo thay đổi trong tiêu chí đánh giá nhà cung cấp của các nhà mua hàng quốc tế. Bên cạnh các yếu tố nền tảng về chất lượng, chi phí và tiến độ giao hàng, ba nhóm yêu cầu mới đang dần trở thành điều kiện tham gia chuỗi: khả năng kết nối số và minh bạch dữ liệu sản xuất; khả năng chống chịu và thích ứng nhanh trước gián đoạn nguồn cung; và bằng chứng đo lường được về tác động môi trường, phúc lợi người lao động. Nhà cung cấp, theo đó, không chỉ được đánh giá qua năng lực sản xuất, mà còn qua cách thức vận hành và mức độ minh bạch trong toàn bộ chuỗi giá trị.
Vị trí của Việt Nam trong dữ liệu thương mại giá trị gia tăng
Tại Diễn đàn, Đại diện Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) chia sẻ dữ liệu thương mại giá trị gia tăng (trade in value-added) cho thấy tỷ trọng giá trị gia tăng nước ngoài trong hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng từ khoảng 33% năm 2010 lên 48,5% năm 2022, cao hơn mức trung bình 30,4% của các nước OECD. Xu hướng tăng này phù hợp với một ước tính trước đó của Bộ Công Thương, theo đó tỷ trọng giá trị gia tăng trong nước của Việt Nam giảm từ 69% xuống 52% trong giai đoạn 2000-2020.
Hai ngành công nghiệp điện tử và dệt may, cộng lại chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu cả nước, đồng thời cũng là hai ngành có tỷ trọng giá trị gia tăng nước ngoài cao nhất. Theo Báo cáo Việt Nam 2045 của Ngân hàng Thế giới, năm 2020 có khoảng 23,8 triệu lao động Việt Nam, tương đương 44,7% tổng số lao động, tham gia vào hoạt động sản xuất phục vụ nhu cầu ở nước ngoài, riêng ngành dệt may khoảng chín phần mười.
Trong phát biểu bế mạc, ông Nguyễn Đức Huy nhận định con số này cho thấy mức độ gắn kết rất lớn giữa nền kinh tế Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng gắn kết sâu mà phần giá trị giữ lại còn thấp là một thế phụ thuộc, chứ chưa phải một vị thế, và mỗi biến động từ bên ngoài đều tác động trực tiếp đến việc làm và thu nhập của hàng chục triệu người. Những số liệu này được diễn đàn xác định là căn cứ cho yêu cầu trọng tâm đặt ra với Việt Nam trong giai đoạn tới: không chỉ mở rộng quy mô xuất khẩu, mà cần nâng cao năng lực để giữ lại nhiều giá trị hơn trong chính những chuỗi mà doanh nghiệp trong nước đang tham gia.
Ở cấp độ khu vực, ASEAN với quy mô dân số hơn 700 triệu người và tổng sản phẩm quốc nội gộp khoảng 3.800 tỷ USD là một trong những khối kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của thế giới, song thương mại nội khối mới chiếm khoảng 22% tổng thương mại của khu vực, thấp hơn đáng kể so với mức độ hội nhập nội khối của Liên minh châu Âu.
Trong bài phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Đức Huy cũng lưu ý ASEAN đã dành khoảng ba mươi năm để dỡ bỏ thuế quan giữa các thành viên và về cơ bản đã hoàn thành mục tiêu này, nhưng nguyên nhân khiến thương mại nội khối chưa tương xứng với tiềm năng không còn nằm ở thuế quan, mà ở thủ tục giấy tờ, tiêu chuẩn, chứng nhận và các hệ thống chưa kết nối được với nhau.
Diễn đàn ghi nhận rào cản chính hiện không còn nằm ở thuế quan, khi Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN đã xóa bỏ tới 98,6% dòng thuế nội khối, mà nằm ở sự thiếu thống nhất về dữ liệu, quy định và tiêu chuẩn số giữa các nền kinh tế thành viên. Đây là nội dung mà Hiệp định khung Kinh tế số ASEAN, dự kiến hoàn tất trong năm 2026, hướng tới giải quyết, mở ra dư địa để Việt Nam cùng các nền kinh tế trong khu vực tham gia xây dựng khuôn khổ kết nối chuỗi giá trị chung.
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, các tập đoàn hiện nay đánh giá một quốc gia hoặc địa phương trên bảy nhóm yếu tố, từ hạ tầng, công nghệ, kỹ năng lao động đến phát triển bền vững, chứ không còn chủ yếu dựa trên yếu tố chi phí.
Bà Vân Nguyễn, Phụ trách Chương trình nghị sự khu vực, Trung tâm Sản xuất tiên tiến và Chuỗi cung ứng của WEF, nhận định ASEAN có thể trở thành một trung tâm sản xuất đáng tin cậy nếu các nền kinh tế trong khu vực kết nối được những năng lực bổ trợ về sản xuất, công nghệ, tiêu chuẩn và nhân lực; khi đó khu vực không chỉ có khả năng đón thêm dòng đầu tư mà còn có điều kiện giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi sản xuất.
Bà Anne-Katrin Pfister, Trưởng Bộ phận Chính sách Thương mại số khu vực châu Á – Thái Bình Dương của WEF, cho biết theo đánh giá trong khuôn khổ Dự án ASEAN Digital Economy Agreement Leadership (ASEAN DEAL) do WEF triển khai, DEFA có thể mở ra cơ hội thị trường trị giá từ 1.000-2.000 tỷ USD cho kinh tế số khu vực, đồng thời lưu ý mức độ sẵn sàng kỹ thuật số giữa các nước ASEAN còn khác biệt đáng kể, hệ thống pháp luật, chính sách chưa đồng bộ.
Trong phát biểu bế mạc, ông Nguyễn Đức Huy nhận định lợi thế của ASEAN không nằm ở việc từng quốc gia mạnh lên riêng lẻ, mà nằm ở khả năng kết nối những năng lực bổ trợ lẫn nhau giữa các nền kinh tế thành viên thông qua liên thông về tiêu chuẩn số, công nghệ và nhân lực; với Việt Nam, điều này đặt ra hai việc cần triển khai song song là nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp thông qua chuyển đổi sản xuất thông minh, và tham gia chủ động vào việc định hình khuôn khổ kết nối của khu vực.
Nội dung hai phiên đối thoại
Chương trình diễn đàn gồm hai bài tham luận mở đầu và hai phiên đối thoại. Phiên thứ nhất, với sự tham gia của đại diện Schneider Electric, American Fashion và The Asia Foundation, tập trung vào yêu cầu cụ thể mà một nhà cung cấp Việt Nam cần đáp ứng để chuyển từ vị trí nhận đơn hàng sang vai trò cùng thiết kế, cùng phát triển sản phẩm với đối tác quốc tế, trên cơ sở năng lực kỹ thuật, khả năng chủ động đề xuất giải pháp và mức độ am hiểu thị trường.

Ông Pradeep Singh, Phó Chủ tịch phụ trách Hoạch định và Logistics khu vực Đông Á của Schneider Electric, dẫn chứng việc vận chuyển sản phẩm điện tử giữa các quốc gia ASEAN vẫn gặp rào cản do quy định và giấy phép khác nhau; sau các thỏa thuận thương mại tự do, chính thủ tục hành chính, chứ không phải thuế quan, đang làm tăng chi phí sản xuất và thương mại hàng hóa trong khu vực.
Phiên thứ hai, quy tụ đại diện Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Diễn đàn Kinh tế Thế giới và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, trao đổi về chính sách và cơ chế hỗ trợ nhằm gia tăng giá trị nội địa và phát triển chuỗi giá trị Việt Nam – ASEAN.

Bà Bùi Thị Ninh, Phó Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng đã có một số ngành mà doanh nghiệp Việt Nam đang có vị thế dẫn đầu trong chuỗi cung ứng như thủy sản, chế biến gỗ, chế biến hạt điều và cà phê, với chìa khóa để giữ vững vị thế là minh bạch dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và quản trị chuỗi hiệu quả; trong khi ở các lĩnh vực chế tạo, điện tử, doanh nghiệp Việt Nam mới chủ yếu tham gia ở khâu lắp ráp và cung ứng linh kiện đơn giản, nơi chỉ giá cả cạnh tranh và năng lực sản xuất tốt là chưa đủ điều kiện gia nhập chuỗi, mà cần thêm các chứng nhận quốc tế về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thực hành ESG và nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao.
Ông Norihiko Yamano, chuyên gia kinh tế của OECD, nêu 4 yêu cầu để khai thác đầy đủ lợi ích từ DEFA: số hóa dòng chảy thương mại theo quy trình đầu-cuối, bảo đảm khả năng chia sẻ dữ liệu đáng tin cậy trên toàn chuỗi giá trị, xây dựng hạ tầng chuỗi cung ứng có khả năng tương tác, và đưa doanh nghiệp nhỏ và vừa vào chuỗi cung ứng số.
Cả hai phiên đều kết thúc bằng phần định hướng hành động, trong đó mỗi diễn giả nêu một nội dung cụ thể dự kiến triển khai trong mười hai tháng tới cùng chủ thể thực hiện, làm cơ sở để Trung tâm tiếp tục theo dõi và phối hợp triển khai sau diễn đàn.
Mạng lưới đối tác đồng hành
Diễn đàn cũng là dịp Trung tâm công bố các đối tác đồng hành trong xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất thông minh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) đồng hành cung cấp giải pháp tài chính cho quá trình đầu tư, chuyển đổi sản xuất và chuyển đổi xanh, đặc biệt hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong khi đó, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Tuần hoàn là đối tác chuyên môn về ESG và kinh tế tuần hoàn, EY Việt Nam tham gia với vai trò đối tác tri thức, phối hợp nghiên cứu và hoàn thiện khung triển khai, phương pháp đánh giá. Cộng đồng Lean Việt Nam hỗ trợ cải tiến vận hành và chuẩn hóa quy trình. Công ty Cổ phần Công nghệ cao Toàn cầu Việt Nam đồng hành phát triển nền tảng số. Gradion Vietnam tham gia đội ngũ tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển hóa kết quả đánh giá thành lộ trình hành động cụ thể. Công ty TNHH CITARES đồng hành phát triển năng lực và nguồn nhân lực kỹ thuật.

Thông qua mạng lưới đối tác này, HCMC C4IR hướng tới hình thành cơ chế hỗ trợ xuyên suốt cho doanh nghiệp, từ đánh giá năng lực, xác định lộ trình, cải tiến vận hành, ứng dụng công nghệ, đến tiếp cận tài chính, chuyển đổi ESG và phát triển nguồn nhân lực, qua đó góp phần nâng cao năng suất và hỗ trợ doanh nghiệp từng bước tham gia vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo dự báo dân số giai đoạn 2024-2074 do Cục Thống kê chủ trì, phối hợp với Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, Việt Nam sẽ chính thức bước vào thời kỳ dân số già từ năm 2034, khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt 14% dân số, sớm hơn hai năm so với dự báo trước đó. Diễn đàn xác định đây là căn cứ cho thấy quá trình nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam cần được triển khai trong một khung thời gian xác định, trước khi cơ cấu dân số vàng, nền tảng của mô hình cạnh tranh dựa trên chi phí lao động, thu hẹp dần trong khoảng một thập kỷ tới.
Chương trình thí điểm VSM70
Song song với diễn đàn, HCMC C4IR đang triển khai chương trình thí điểm chuyển đổi sản xuất thông minh VSM70, lựa chọn bảy mươi doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa có nhà máy trên địa bàn Thành phố tham gia. Mỗi doanh nghiệp tham gia chương trình lựa chọn một bài toán vận hành ưu tiên của mình và triển khai xử lý dứt điểm trong chín mươi ngày, với chuyên gia đồng hành trực tiếp tại nhà xưởng. Chương trình không thu phí, trung lập về công nghệ, bảo đảm bảo mật thông tin và dữ liệu của doanh nghiệp tham gia; doanh nghiệp giữ vai trò chủ thể trong toàn bộ quá trình triển khai. Hồ sơ đăng ký được tiếp nhận đến giữa tháng 9 năm 2026, xét chọn trong tháng 9 và ký kết triển khai trong tháng 10 năm 2026.

HCMC C4IR đề nghị các sở, ngành, hiệp hội ngành nghề, ban quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp phối hợp giới thiệu chương trình đến các doanh nghiệp phù hợp; đồng thời mong nhận được sự giới thiệu của các doanh nghiệp đầu chuỗi và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với các nhà cung ứng của mình. Chương trình VSM70 là một trong những cơ chế cụ thể để Trung tâm hiện thực hóa định hướng hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực vận hành đã được đặt ra tại diễn đàn, gắn với mạng lưới đối tác đồng hành nêu trên.
Trên cơ sở kết quả diễn đàn, HCMC C4IR tiếp tục phối hợp với các đối tác quốc tế và mạng lưới doanh nghiệp đồng hành để cụ thể hóa các nội dung hành động đã được các diễn giả nêu tại hai phiên đối thoại, triển khai chương trình VSM70 theo tiến độ đã xác định, đồng thời tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền về định hướng hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao theo Quyết định số 4174/QĐ-UBND ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
